Bàn về việc đọc

Tác giả: Anh Gau Pham

Khả năng đọc là một trong những khả năng tuyệt vời của con người, là phát kiến thần kỳ và quan trọng có lẽ chỉ sau việc tìm ra lửa. Việc tìm ra lửa giúp biến thủy tổ của chúng ta từ loài vật thành loài người, việc phát kiến ra chữ viết và từ đó thiết lập nên một hoạt động mới của con người là đọc giúp biến con người “vớ vẩn” thành con người thông minh. Khác với suy nghĩ là một hoạt động có sẵn, đọc là một hoạt động cố ý và phải được huấn luyện được đúc kết từ khả năng quan sát và nhận biết thông tin. Nhờ có hoạt động đọc mà hiểu biết của chúng ta tăng lên và nhờ đó mà suy nghĩ của chúng ta được đẩy lên những tầm cao mới. Nói thế cũng có nghĩa là nếu không đọc thì suy nghĩ của chúng ta chỉ đứng yên ở những tầm cao cũ.

Có lẽ chính vì đọc là một hoạt động phải được rèn luyện và thực hành một cách cố tình nên nó cũng là một hoạt động mang tính lựa chọn. Người ta không trốn tránh được việc suy nghĩ nhưng có thể lựa chọn đọc hay không đọc. Người ta có thể không đọc vì không biết chữ hay không có gì để đọc nhưng phần nhiều những người còn lại không đọc chỉ vì không thích đọc, nói ngắn gọn là vì lười hoặc vì không nhìn thấy lợi ích thiết thực trong việc đọc. Nếu vì đọc làm ảnh hưởng đến việc mưu cầu sự sống thì có thể tha thứ được nhưng nếu không đọc chỉ vì lười thì là một điều rất đáng trách. Nếu bạn là một người như vậy thì khả năng suy nghĩ của bạn chắc chắn là sút kém và bạn đang tiến hóa lùi.

Khi có một cái ô tô thì bạn đã có phương tiện để đi xa. Nếu thay vì dùng ô tô để đi những khoảng cách hàng ngàn km bạn lai quyết định đi bộ thì bạn đang để phí những nguồn lực quan trọng. Khả năng đọc cũng là một phương tiên tương tự như ô tô có thể đưa bạn đến những nơi bạn chưa đến, làm những việc thú vị mà bạn chưa làm, gặp gỡ những người có thể làm thay đổi lộ trình của cuộc đời bạn. Không có lý do nào có thể biện minh cho việc bạn không sử dụng phương tiện này cả. Như hoạt động nhìn, hoạt động nghe, hoạt động đọc phải được coi là một hoạt động quan trọng mà bạn thực hiện đều đặn mỗi ngày.

 

Tại sao việc đọc lại quan trọng đến như vậy? Bạn thử hình dung lại khi chưa có chữ viết thì thông tin được truyền đạt từ đời này sang đời khác như thế nào. Thuần túy là bằng trí nhớ kiểu cha truyền con nối. Không chỉ nói đến văn học dân gian hay những thần thoại mang tính sử thi, những kiến thức mang tính sống còn với con người ví như loại quả loại cây nào ăn được cũng chỉ được truyền đạt lại cho người sau bằng cách này. Lời nói gió bay, độ chính xác của những thông tin truyền lại thường bị sai lệch đi nhiều. Chữ viết đã ra đời để giúp nâng cao độ tin cậy của thông tin đồng thời trở thành một phương tiện lưu trữ hết sức hiệu quả các thành tựu bất kể lớn bé của con người. Đa phần những kiến thức quan trọng ngày hôm nay đều đã được ghi chép lại dưói một dạng chữ viết này hay chữ viết khác. Thay vào việc tìm tòi và nghiên cứu lại từ đầu, người đời sau có thể sử dụng kiến thức của đời trước để phát triển hơn nữa. Để có thể làm được như vậy chỉ có một cách duy nhất là đọc.

Đọc vì thế có các chức năng thông tin và học. Đọc cũng có chức năng giải trí nhưng với bạn là người theo đuổi học vấn có mục đích thì chức năng này phải được coi như chức năng phụ. Việc bạn sử dụng chức năng nào của đọc phụ thuộc vào hai điềm sau: thứ nhất, bạn đọc như thế nào; và thứ hai, bạn đọc cái gì.

 

  1. Đọc như thế nào?

Khi mới bắt đầu học đọc tôi thường chỉ đọc mà không ghi chép. Lúc còn trẻ con và sau này nữa trí nhớ còn tốt, đọc mà không ghi chép tôi vẫn có thể nhớ được nhiều và nhiều năm về sau vẫn có thể nhớ lại những thông tin đã đọc. Nhưng những thông tin quan trọng mà không nhớ được cũng rất nhiều. Chính vì để khỏi mất mát những thông tin quan trọng đã đọc được, tôi bây giờ ủng hộ việc đọc có ghi chép. Tuổi càng cao lên, trí nhớ của bạn càng sút giảm và lợi ích của việc ghi chép sẽ ngày càng tăng. Lời khuyên đầu tiên của tôi về việc đọc là nên ghi chép lại ngắn gọn những thứ bạn đọc. Cũng nên ghi chép chi tiết những thứ mà vào thời điểm đọc bạn coi là quan trọng.

Như vậy đọc để học và đọc để giải trí khác nhau ở một điểm đầu tiên này là tầm quan trọng của thông tin thu thập được. Khi đọc với chủ định học và ghi nhớ, bạn nên ghi chép; nếu đọc chỉ để chơi cho vui, đỡ buồn thì thôi.

Đọc bằng ngoại ngữ tuy thế lại có chức năng học kép, bạn vừa học ngoại ngữ lại vừa học kiến thức. Kể cả khi mà tài liệu bạn đọc không có gì quan trọng về nội dung, bạn vẫn có thể học được ngoại ngữ. Chính vì thế, nên ghi chép bất kỳ khi nào bạn đọc bằng ngoại ngữ.

Trái với quan niệm cổ truyền lạc hậu của chúng ta là đọc nhiều quá làm cho người ta bị bệnh về tinh thần, tôi đảm bảo với bạn là tôi đã gặp nhiều người cả đời chỉ có đọc và học mà trí tuệ hoàn toàn minh mẫn. Việc đọc và suy nghĩ không làm người ta lao lực mà ngược lại làm phát triển khả năng tư duy và góp nhặt tài sản tri thức. Chính hai thứ sau này khiến dân gian không được vừa lòng lắm với những tay “mọt sách.” Để tránh bị phê bình là odd-ball hay bookworm bạn chỉ cần để ý chút ít về các kỹ năng giao tiếp xã hội thông thường, nên tránh việc phô bày kiến thức ở những nơi mà bạn nghĩ nó sẽ không được đề cao lắm. Khiêm tốn bao giờ cũng là một đức tính đáng quý. Nếu bạn chưa là bạn của mọi người nhờ kiến thức thì lý do đầu tiên là kiến thức của bạn chưa đủ.

Chính vì đọc để học không có hại cho sức khỏe tinh thần của bạn như dân gian vẫn quan niệm, tôi khuyên bạn nên đọc bất kỳ khi nào có thể và bất kỳ cái gì có thể phục vụ cho mục đích học của bạn. Hãy đọc để học và đọc cả để nghỉ ngơi.Rèn luyện được thói quen đọc nhiều, mọi nơi và đọc có ghi chép là tất cả những gì bạn cần để đọc thành công trong môi trường học ở Mỹ. Khác với học ở Việt Nam, việc đọc không được chú trọng lắm, một hai quyển sách giáo khoa đã là đủ thì ở Mỹ mỗi buổi học giáo sư có thể giao cho bạn đọc từ vài chục đến hàng trăm trang sách. Sự khác biệt này là hệ quả của một trong những nhược điểm của việc học ở Việt Nam và Trung Quốc tôi đã nói ở phần trên. Ở Việt Nam, quan niệm cho rằng kiến thức trong quyển sách giáo khoa kia đã là sự thật không thể thật hơn được nữa và để giỏi bạn chỉ cần biết đến thế. Ở Mỹ, cho sinh viên tiếp thụ thông tin trái ngược nhau là để sinh viên tự tìm lấy câu trả lời cho riêng mình đồng thời rèn luyện cho sinh viên khả năng tư duy chọn lọc (không tin ngay những gì bạn đọc, luôn đặt câu hỏi với thông tin, không hài lòng với những kiến thức có sẵn.) Học ở ta như thế sẽ khó tránh được việc phát triển cái cũ hay chỉ đơn thuần là hạn chế tư duy phá lệ thì ở Mỹ, sự va chạm của các nguồn thông tin trái ngược nhau hay sản sinh ra những cái mới, mở ra những chần trời học vấn mới.

Với lượng thông tin lớn như vậy phải nắm kịp trong một thời gian ngắn trước bài giảng, bạn sẽ cần những kỹ năng phải chuẩn bị ngay từ bây giờ. Phải thú thực là ít có người, kể cả và đặc biệt là sinh viên Mỹ, có thể đọc hết tất cả những thứ thầy giao cho đọc trước. Sinh viên nước ngoài thông thường do đọc tiếng Anh như ngoại ngữ nên lại đọc càng ít hơn. Nói thế không có nghĩa là bạn cũng sẽ như vậy. Có nhiều lợi ích trong việc đọc hết được các assigned readings. Nếu bạn làm được thì bạn sẽ học được rất nhiều nhưng để làm được thế bạn cần phải làm gì.

Muốn đọc được nhiều trong thời gian ngắn, bạn cần phải đọc nhanh. Đọc nhanh tuy thế chỉ có tác dụng khi bạn nhớ được nội dung của những gì bạn đọc. Nếu không nhớ được thì đọc nhanh mấy cũng chỉ là vô ích.

Trong thời đại bùng nổ thông tin thế này, việc đọc nhanh lại càng trở nên có ích. Các chương trình dậy đọc nhanh ở Mỹ khoe là có thể huấn luyện cho ngưới ta đọc nhanh đến 10.000 từ mỗi phút (khoảng 20 trang A4) với độ ghi nhớ (retention) đến 80%. Tôi e rằng các con số này chỉ là quảng cáo. Theo tôi hiểu người thường có thể đọc bản ngữ đến khoảng 200 từ mỗi phút với độ ghi nhớ cao khoảng 60% tức là mỗi phút đọc tiếng Việt bạn sẽ may mắn nếu nhớ được thông tin chứa trong 120 từ. Cứ cho như bạn đọc tiếng Anh với tốc độ của người bản ngữ thì để đọc 100 trang (~40-50.000 từ) cho một môn học thì bạn sẽ mất khoảng 3-4 tiếng. Bạn có làm được thế không?

Nếu bạn trả lời là Không thì tôi khuyên bạn nên khởi động ngay từ bây giờ và chuyển sang đọc tiếng Anh càng nhiều càng tốt. Không phải là người bản ngữ, để đọc nhanh hơn, trước tiên bạn cần phải vượt qua những rào cản ngữ pháp và từ vựng. Ngữ pháp thì dễ dàng hơn, từ vựng thì là việc học cả đời “chỉ nói là nhiều hay ít chứ không biết thế nào cho đủ.”

Không thể nói về việc đọc mà không đề cập đến tầm quan trọng của từ vựng. Từ, đơn vị ngữ pháp nhỏ nhất, là phương tiện quan trọng nhất chuyển tải ý tưởng (vehicles for ideas.) Để nắm bắt được nhiều ý tưởng hơn trong thời gian ngắn, bạn nhất thiết phải biết nhiều từ hơn mà không chỉ biết sơ qua, phải thật sự thân thiết. Từ vựng phải được coi như bạn thân để giữ cả đời (good friends to keep for life.)

Đọc câu trên tối viết, có lẽ bạn hơi nhăn mặt nghĩ rằng tôi đang hoa mỹ không cần thiết. Có thể là thế nhưng để tôi giải thích và bạn sẽ nghĩ lại là không phải thế. Do mỗi từ, ở đây tôi nói tiếng Anh, chuyển tải một ý tưởng riêng biệt-kể cả các từ đồng nghĩa cũng không hoàn toàn giống nhau-nên mỗi từ bạn biết thêm cho bạn khả năng diễn đạt một ý tưởng mới mà trước đây bạn có thế hoàn toàn không biết đến hay có biết thì để diễn đạt phải dùng cả câu dài. Nói không ngoa, mỗi từ lại thêm một chút ý nghĩa vào cuộc đời của bạn. Đây cũng đồng thời là định nghĩa cho những người bạn tốt. Như vậy, từ vựng và bạn tốt đúng thực là giống nhau.

Để đọc nhiều bạn cần đọc nhanh, để đọc nhanh bạn cần biết nhiều từ, việc bạn biết nhiều hay ít từ phụ thuộc vào việc bạn đọc cái gì.

 

  1. Đọc cái gì?

 

Lúc khởi đầu, hãy đọc cái gì bạn thích. Đừng đọc những gì bạn bị bắt phải đọc. Làm gì cũng vậy và đọc không phải là ngoại lệ, chúng ta làm tốt hơn nếu ham thích công việc đang làm. Đừng lo nếu ở lớp ngoại ngữ thầy cô giáo bắt bạn phải đọc một tài liệu do họ chọn, hãy cố tự chọn cho mình những tài liệu mà mình có quan tâm. Hãy đọc bầt kỳ cái gì bạn thích. Đừng ngại ngần nếu cái bạn đọc không có liên quan gì đến cái bạn học. Kiến thức có những cách kết hợp kỳ lạ ngoài tầm kiểm soát hay mong muốn của bạn.

Một quyển sách tiếng Anh hay đọc trong một tuần có giá trị hơn sáu tháng học ngoại ngữ trên lớp.

Khó tin nhưng là việc có thật. Một quyển sách hay vài trăm trang về bất kỳ vấn đề gì bạn thích là một bài học tổng hợp tốt nhất bạn có thể có. Sách sẽ dạy cho bạn cách hành văn, ngữ pháp, từ vựng, văn hóa, lịch sử, xã hội, đạo đức, triết học, tình yêu, vv. Xin thử cho tôi một ví dụ về sáu tháng học tiếng Anh trên lớp có thể mang lại cho bạn bằng đấy kiến thức.

Xin nhớ đừng quên ghi chép và đừng quên biến việc đọc thành một quá trình. Việc đọc sách nhiều trong thời gian đầu học tiếng Anh sẽ giúp bạn có thể thi TOEFL được điểm cao về ngữ pháp, từ vựng và đọc hiểu mà không cần phải học. Hãy đọc nhiều truyện hay, lãng mạn hay công an bắt gián điệp đều được cả miễn là bạn thấy thích. Ngày xưa tôi cứ đọc vài quyển sách là thấy tiếng Anh của mình đã lên cao hẳn lên một bậc.

Ở đây có hai điểm tôi muốn nói. Thứ nhất là khái niệm subliminal learning. Khái niệm này nói về việc học không có chủ ý. Đọc tiểu thuyết bằng ngoại ngữ là ví dụ như vậy, bạn học mà không biết là mình đang học. Khi tôi khuyên mọi người nên đọc bất kỳ cái gì, thông thường tôi thấy mọi người có vẻ đều nghi ngờ hoặc nếu có đồng tình thì chỉ để đó chứ không thực hiện. Về kỹ thuật mà nói, bất kỳ cái gì bạn đã nhìn thấy bạn đều nhớ. Việc bạn có biết là mình đã nhớ những gì hay có gọi lại những thứ bạn đã nhớ hay không lại là những việc khác. Học tiếng Anh bằng công thức trên lớp chỉ là một cách, thông thường hiệu quả kém nếu bạn không thích người dậy, thời tiết nóng bức, tài liệu học, người ngồi bên cạnh, vv. Đọc sách giúp bạn học thếm nhiều điều bạn cố ý học và song song là thu thập mọi thứ bạn nhìn thấy trong sách rồi lưu trữ lại trong đầu bạn khi nào ý thức yêu cầu bạn có ý kiến về một vấn đề có thể bạn hoàn toàn không biết nhưng đã trót nhìn thấy ở đâu đó trong một quyển sách bạn đã đọc, bạn sẽ thấy ngạc nhiên về hiệu quả truy cập thông tin trong tiềm thức. Bạn sẽ có ý kiến của mình mà đôi lúc không hiểu từ đâu ra.

Đây là một cách cực kỳ hiệu quả để học ngữ pháp tiếng Anh nếu ngữ pháp là thứ bạn sợ. Hãy đọc nhiều và bạn sẽ tự nhiên biết được ngữ pháp thế nào là đúng. Hãy đọc thật nhiều và bạn sẽ biết được ngữ pháp thế nào là sai. Bạn sẽ phát triển được con mắt thứ ba về các quy tắc ngữ pháp và hành văn tiếng Anh gần như chính xác tuyệt đối mà không bị mất nhiều công sức.

Điều thứ hai tôi muốn nói là về từ vựng. Ở đây tôi xin ghi lại nguyên văn 5 quy tắc học từ của tác giả Norman Lewis, một chuyên gia về huấn luyện từ vựng tiếng Anh cho người Mỹ. Xin gợi ý lại cho các bạn đang học thi GRE hay GMAT là người bản ngữ cũng thấy khó học từ hệt như bạn.

Phải cởi mở với từ mới một cách chủ động

  • Từ mới sẽ không đuổi theo để bạn nhớ, hãy đi tìm chúng
  • Hãy đọc thật nhiều (Hì hì, nhớ tôi nói gì ở trên không?)

Cố đọc một quyển sách và vài tạp chí mỗi tuần, không chỉ tuần này và tuần sau mà suốt cả đời.

Hãy thêm từ mới đọc được vào vốn từ vựng của mình

  • Lần đầu nhìn thấy từ mới, hãy dừng một chút để suy nghĩ đến ý nghĩa của từ trong văn cảnh cũng như “chiêm ngưỡng dung nhan của nó”. Bạn chưa chắc đã nhớ ngay nhưng sẽ nhận ra nó lần sau, vài lần như thế thì bạn không chỉ nhớ mà còn biết các nghĩa khác nhau của từ nữa.
  • Phải để tư tưởng cởi mở với các ý tưởng mới.
  • Từ là ý, nếu không muốn nhớ ý thì sẽ khó nhớ từ

Phải đặt mục tiêu cụ thể

Nếu không có mục tiêu thì trong vòng một năm tới may lắm bạn học được thêm vài chục từ mới. Nếu có mục tiêu bạn có thể học được vài chục từ mới trong vòng một tuần hay vài ngàn từ trong cả năm. Đừng sợ học hết từ, tiếng Anh hiện đại có ít nhất 500.000 từ và mỗi ngày đều có thêm những từ mới.

Tôi chưa từng đến Mỹ nhưng tôi muốn góp ý vài câu về bài viết này, tán rộng ra vấn đề tri thức, chứ không phải chỉ tập trung vào cách học Anh ngữ.1. Không nên phê phán cách học của người Trung quốc

Đối tượng chủ yếu của những người đọc topic này là những sinh viên chưa từng đến Mỹ và đang mong muốn học tập tại Mỹ. Cửa ải quan trọng nhất mà họ phải vượt qua là Tiếng Anh để giành admission và học bổng.

Nếu phê phán mô hình học của người Trung Quốc thì phải đề ra được một mô hình nước khác có hiệu quả hơn hoặc một mô hình mới có khả năng áp dụng tại Việt nam. Điều quan trọng là giải thích được tại sao nó khả thi ở Việt nam. Cho rằng người Phương tây giỏi kiến thức tổng hợp, đặc biệt là anh ngữ hơn người Phương đông bởi từ bé họ đã chăm chỉ nhặt nhạnh các kiến thức hổ lốn hơn là sai lầm. Văn hoá giữa các nước phương tây, đặc biệt là ngôn ngữ có rất nhiều sự tương đồng, nên hiển nhiên đa số họ giỏi sinh ngữ và tri thức bách khoa hơn người phương đông.

Thêm vào đó họ lại được hưởng một nền giáo dục tiên tiến, kích thích sáng tạo và định hướng tích luỹ tri thức đúng đắn. Đòi hỏi một sinh viên Việt bình thường ngoài chương trình học phổ thông vất vả như của Việt nam hiện nay phải nhồi nhét thêm nhiều thứ lăng nhăng khác, không phục vụ trực tiếp cho việc học ở trường của họ là phi lý. Mặt khác những tri thức ấy chỉ được bản thân họ chọn lọc, không có sự hỗ trợ của chính nền giáo dục, rất có thể lệch lạc và không cần thiết. Một điểm quan trọng, đa số các nước phương tây và Mỹ không có kỳ thi đại học. Điểm tốt nghiệp phổ thông với sự coi trọng đồng đều các môn hết sức quan trọng quyết định việc học lên cao nên họ không bị mất thời gian và sức ép tập trung vào vài ba môn thi đại học như Việt nam ta.

Như chúng ta đều biết, Trung Quốc hiện là nước có sinh viên apply du học Mỹ thành công nhất, luôn dẫn đầu về điểm số TOEFL, GRE, GMAT và vì vậy có sức cạnh tranh rất cao để giành học bổng và các suất TA, RA. Để đạt được kết quả ấy, TQ đã thành lập các trung tâm đào tạo anh ngữ chất  lượng rất cao, thu thập tất cả các nguồn đề thi TOEFL, GRE, GMAT có thể để luyện cho sinh viên của họ theo kiểu luyện gà từ cấp hai. Theo quan điểm của tôi đấy là cách hiệu quả nhất để đưa được số đông sinh viên đến Mỹ.

Đa số sinh viên Việt nam muốn du học là những người trí tuệ bình thường, có quỹ thời gian luyện thi eo hẹp. Việt nam chưa có điều kiện để thành lập các trung tâm anh ngữ như TQ thì bản thân mỗi cá nhân phải tự gò mình theo cách ấy, nghĩa là cần cù làm bài test, chú trọng đến tính hiệu quả chứ không phải tích luỹ nhiều tri thức trang trí hào nhoáng mà mục đích quan trọng nhất vẫn loay hoay không làm sao không đạt được.

Còn đối với một thiểu số có khả năng đặc biệt về anh ngữ thì không cần ai phải tư vấn cách học như thế nào. Chính sự học hành mau tiến bộ là nguồn động lực thúc đẩy họ học say mê và chóng đạt kết quả cao.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: